Date Log
SỰ KIẾN TẠO NƠI CHỐN TRONG TIỂU THUYẾT KAWABATA YASUNARI
Corresponding Author(s) : Nguyễn Phương Khánh
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục,
T. 12 S. 1 (2022): Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục
Tóm tắt
Tiểu thuyết của Kawabata Yasunari có thể nói là bức tranh của không gian và con người Nhật Bản thuần khiết chất riêng. Ở một góc độ nào đó, tác phẩm của ông chính là “bản lai diện mục” cho chân dung văn hoá Nhật. Các sáng tác của “người nghệ sỹ ưu sầu lang thang đi tìm cái đẹp” đậm tính không gian, khắc hoạ những cảnh sắc đặc trưng của xứ sở hoa anh đào như khung cảnh cố đô với chùa chiền, vườn cảnh, rừng thông, núi non, hoặc xứ tuyết hoang sơ bốn mùa thay lá… Cảnh quan dưới con mắt của Kawabata mang trái tim aware, và là nơi để con người khám phá chính mình. Hành trình của các nhân vật (nhân vật chính trong truyện của Kawabata hầu như không ở yên một chỗ cố định) gần như không để thực hiện các công việc cụ thể, mà thật sự là một cuộc tìm kiếm nơi chốn, để chữa lành, để hiện hữu. Có thể nói, các không gian và địa điểm trong tiểu thuyết của Kawabata đều thấm đẫm “tinh thần nơi chốn”. Lý thuyết về nơi chốn trong hiện tượng học, đến quan niệm về “tinh thần nơi chốn” trong hiện tượng học kiến trúc, hay địa lý nhân văn, đều hướng đến việc diễn tả: Nơi chốn không chỉ là địa điểm, đó là môi cảnh khẳng định, xác nhận sự tồn tại, hiện hữu một cách duy nhất của con người. Nơi chốn bao gồm sự gắn kết của tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài, nơi chốn bao gồm cả tinh thần nơi chốn, tính cá biệt, tính ổn định, cảm giác của nơi chốn. Thậm chí nó còn đưa đến các khái niệm như bản sắc của nơi chốn, tình trạng không nơi chốn, tức cái chết của nơi chốn… Bài viết muốn đọc lại tác phẩm của Kawabata dưới lý thuyết nơi chốn của hiện tượng học kiến trúc để một lần nữa làm rõ hơn sự kiến tạo cảnh sắc Nhật Bản của Kawabata, theo cách của tinh thần Đông phương, mỹ học Nhật Bản, như chính ông đã viết trong lời diễn từ nhận giải Nobel - “Sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản”.
Từ khóa
Tải về trích dẫn
Endnote/Zotero/Mendeley (RIS)BibTeX
- Appleton, J. (1975), The Experience of Landscape, John Wiley & Sons, Great Britain.
- Bachelard, G., & Jolas, M. (1994). The poetics of space (Vol. 330). Beacon Press.
- Childs, I. R.W. (1991), “Japanese Perception of Nature in the Novel Snow Country”, Journal of Cultural Geography, 11:2, 1-19, 10.1080/08873639 109478424
- Doherty, G. (2016), “Is Landscape Literature?”, Is Landcape…? Essays on the Identity of Landscape, Edited by Gareth Doherty and Charles Waldheim, Routledge. https://doi.org/10.4324/ 9781315697581
- Đỉnh, T.T. (2012), Triết học hiện sinh, Công ty sách Thời Đại và NXB Văn học.
- Gale, S.; Olsson, G. (1979), Philosophy in Geography, D. Reidel Publishing Company, Holland.
- Hằng, Đ.T (2007), Văn hóa Nhật Bản và Kawabata, NXB Giáo dục.
- Hoàng, Đ.T. (2016), Hiện tượng học kiến trúc, NXB Mỹ thuật.
- Keene, D. (1984), Dawn to the West, Henry Holt and Co., New York.
- Khánh, N.P. (2019), Nhật Bản - từ mỹ học đến văn chương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Lynch, K. (1960), The Image of the City, The M.I.T Press.
- Malpas, J. (2008), Heidegger’s Topology: Being, Place, World, A Bradford Book.
- Schulz, C.N. (1979), Genius Loci: Towards a Phenomenology of Architecture, Rizzoli.
- Tsutsumi, S. (1997), Kawabata Yasunari: interweaving the “old song of the East” and avant-garde techniques. Stanford University Press.
- Ueda, M. (1976), Modern Japanese Writers and the Nature of Literature Stanford, Calif.: Stanford University Press.
- Yasunari, K. (2005), Tuyển tập tác phẩm Kawabata Yasunari (2005), NXB Lao động - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
- Yasunari, K. (2019), Những người đẹp say ngủ, Uyên Thiêm dịch, NXB Hội nhà văn.
- Yasunari, K. (2020), Xứ tuyết, Lam Anh dịch, NXB Hồng Đức.
- Yasunari, K. (2021), Ngàn cánh hạc, An Nhiên dịch, NXB Hồng Đức.
- Yi-Fu, T. (1977). Space and place: The perspective of experience. University of Minnesota Press.
- Weiss, A.S. (2013), Zen Landscapes: Perspectives on Japanese Gardens and Ceramics, Reaktion Books.
- Wollan, G. (2003), Heidegger’s philosophy of space and place, Norsk Geografisk Tidsskrift - Norwegian Journal of Geography, 57:1, 31-39, 10.1080/00291950310000802