Date Log
THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG CỦA HỌC SINH LỚP 12 (Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng)
Corresponding Author(s) : Nguyễn Thị Hằng Phương
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục,
T. 9 S. 1 (2019): TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC
Tóm tắt
Căng thẳng là trạng thái tâm lí cần thiết nhưng nếu căng thẳng kéo dài sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sống của chúng ta. Kết quả nghiên cứu về tình trạng căng thẳng của 395 học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bằng trắc nghiệm tâm lí DASS 21, bảng hỏi, phỏng vấn sâu cho thấy có 24,8% học sinh có dấu hiệu căng thẳng; số học sinh nữ có biểu hiện căng thẳng nhiều hơn so với HS nam… Những nguyên nhân gây ra căng thẳng liên quan đến kì thi THPT quốc gia; sự kì vọng của cha mẹ và vì các em đặt ra yêu cầu quá cao so với năng lực. Một trong những biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng căng thẳng cho học sinh được đề xuất đó là phụ huynh cần quan tâm đến cảm xúc của con cái, không thúc ép con học; giáo viên quan tâm và tận tình trả lời những băn khoăn của học sinh; nhà trường cần tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, tư vấn nghề và phương pháp học tập…
Từ khóa
Tải về trích dẫn
Endnote/Zotero/Mendeley (RIS)BibTeX
-
[1] Đỗ Văn Đoạt (2018). Khảo sát chiến lược ứng phó với căng thẳng trong kì thi chuyển cấp của học sinh ở hà nội. Kỉ yếu hội thảo quốc tế học đường lần 6, NXB Đại học Sư phạm, 214 -219.
[2] Nguyễn Thị Phương Hoa (2018). Một số vấn đề về tham vấn tâm lí học sinh trong nhà trường phổ thông. Kỉ yếu hội thảo quốc tế học đường lần 6, NXB Đại học Sư phạm, 532-540.
[3] Nguyễn Thị Hằng Phương (2009). Thực trạng và nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trường trung học phổ thông chuyên quảng bình. Tạp chí Tâm lí học, 6, 38-48.
[4] Nguyễn Thị Hằng Phương (2011). Phân tích một số nguyên nhân dẫn đến Rối nhiễu Tâm lí và nhu cầu được hỗ trợ tâm lí của học sinh THPT. Hội thảo Khoa học Quốc tế Tâm lí học đường lần 2, Trường ĐHSP Huế, 213-223.
[5] Nguyễn Công Khanh (2000). Tâm lí trị liệu. NXB ĐHQG Hà Nội
[6] Đỗ Minh Thuý Liên, Vũ Phương Nhi (2018). Ảnh hưởng của một số yếu tố tâm lí xã hội đến kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông. Kỉ yếu hội thảo quốc tế học đường lần 6, NXB Đại học Sư phạm, 228-238.
[7] Lê Minh Nguyệt, Ngô Thị Hạnh, Nguyễn Phương Linh (2018). Áp lực gây căng thẳng tâm lí ở học sinh trung học cơ sở. Kỉ yếu hội thảo quốc tế học đường lần 6, NXB Đại học Sư phạm, 404-417.
[8] Trần Thị Lệ Thu (2018). Công tác tư vấn tâm lí cho học sinh của giáo viên chủ nhiệm tại hệ thống giáo dục Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cầu Giấy. Kỉ yếu hội thảo quốc tế học đường lần 6, NXB Đại học Sư phạm, 796-807.
[9] Anthony Y. (1993). Counseling - A Problem solving Approach. Amour, Publishing.
[10] Brian Gillispie (2001). History of Academic Advising. A Chronology of Academic Advising in America.
[11] Cassidy T. (1999). Stress, Cognition and Health. Routledge, London
[12] Cormier L. S., & Hackney, H. (1993). The professional counselor: A process guide to helping (2nd ed.). Needham Heights, MA: Allyn & Bacon.
[13] Egan G. (1994). The Skilled Helper: A Problem-Management Approach to Helping. Brooks/Cole Publishing Company: Pacific Grove, California.
[14] Ender S. C., & Newton, F. B. (Eds.). (2010). Students helping students: A guide for peer educators on college campuses. San Francisco: Jossey-Bass.
[15] Hinkle L.E. (1977). The concept of “stress” in the biological and social sciences. Oxford University Press, NY.
[16] Hinkle L.E. (1987). Stress and disease. The concept after 50 years, Science, Medicine and Man 25, 561-566.
[17] Paul E. (1994). Handbook of Cognition and Emotion. Sussex, U.K. John Wiley & Sons, Ltd.
[18] Pigott, Teresa A (1999). Gender differences in the epidemiology and treatment of anxiety disorders. Journal of Clinical Psychiatry, 60(18), 1999, 4-15.