Date Log
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ CÁC CHỦNG NẤM MỐC GÂY BỆNH TRÊN CÂY DỨA (ANANAS COMOSUS) TẠI MỘT SỐ KHU VỰC BẮC QUẢNG NAM
Corresponding Author(s) : Đỗ Thu Hà
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục,
T. 2 S. 4 (2012): TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC
Tóm tắt
Dứa (Ananas comosus) là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, chiếm vị trí thứ hai sau chuối về sản lượng. Về mặt diện tích và tổng sản lượng, dứa được xếp vào nhóm các cây ăn quả chủ yếu của nước ta cùng với cây chuối và cây có múi. Tuy nhiên, khi tăng diện tích gieo trồng và sản lượng thì bệnh hại trên dứa cũng bắt đầu phát triển, chủ yếu là do vi nấm. Nghiên cứu sự phân bố của các chủng vi nấm gây bệnh trên cây dứa sẽ là những dẫn liệu khởi đầu để tìm ra thời điểm xuất hiện bệnh và thời gian gây hại nặng nhất, từ đó giúp cho công tác dự tính, dự báo và phòng trừ bệnh có hiệu quả cao trong sản xuất nhằm giảm chi phí sản xuất, góp phần nâng cao năng suất thu hoạch, chất lượng và giá trị thương phẩm của quả dứa. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm ra được quy luật phát sinh, phát triển của bệnh hại theo thành phần cơ giới đất, theo mùa ở các vùng sinh thái khác nhau thuộc khu vực Bắc Quảng Nam.
Từ khóa
Tải về trích dẫn
Endnote/Zotero/Mendeley (RIS)BibTeX
-
[1] Burgess L.V, Knight T.E, Tesorio L., Phan Thúy Hiền (2009), Cẩm nang chuẩn đoán bệnh cây ở Việt Nam, Chuyên khảo ACIAR số 129a, 210pp.ACIAR: Canberra.
[2] Nguyễn Lân Dũng, Phạm Thị Trân Châu (1978), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học- Tập III, NXB khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
[3] Lê Văn Khoa (chủ biên), Nguyễn Xuân Cự, Bùi Thị Ngọc Dung, Lê Đức, Trần Khắc Hiệp, Cái văn Tranh (2001), Phương pháp phân tích Đất, nước, phân bón, cây trồng, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
[4] Vũ Triệu Mân (2007), Giáo trình bệnh cây chuyên khoa, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội.
[5] Joy P.P. (2010), Production technology for Vazhakulam pinaepple, Kerela Agricultural University, India.
[6] R. Mahalingam, V. Ambikapathy and A. Panneerselvam (2011), “Biocontrol Measures of Pineapple Disease in Sugarcane”, European Journal of Experimental Biology, Vol 1 (2): 64- 67.