Date Log
DIỄN NGÔN ĐỐI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986
Corresponding Author(s) : Lê Thị Thuý Hằng
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục,
T. 6 S. 1 (2016): TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC
Tóm tắt
Đối thoại là phạm trù nền trong hệ hình tư duy dựa trên nền tảng triết học liên chủ thể của Bakhtin. Tiểu thuyết là đối tượng được Bakhtin lựa chọn làm cơ sở minh chứng cho quan hệ đối thoại của ý thức và con người – một phạm trù nằm ngoài phạm vi ngôn ngữ nhưng được biểu hiện bằng ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ. Lời nói với khuynh hướng hai chiều là biểu hiện tiêu biểu nhất cho tính đa thanh, đối thoại của tiểu thuyết theo quan niệm của Bakhtin. Tính đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 cũng đã bộc lộ nhiều quan điểm, nhiều tiếng nói khác nhau trong lời nói hướng tới đối tượng. Ngôn ngữ đối thoại, đối thoại trong độc thoại nội tâm và sự phản biện, phê phán giữa các ý thức ngôn ngữ là hành trình kiến tạo diễn ngôn đối thoại với những cách tân đáng kể của các nhà tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.
Từ khóa
Tải về trích dẫn
Endnote/Zotero/Mendeley (RIS)BibTeX
-
[1] M. Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.
[2] Bakhtin M. (1993), Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiep xki (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[3] Trần Dần (2012), Những ngã tư và những cột đèn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội,
[4] Nguyễn Việt Hà (1999), Cơ hội của Chúa, Nxb Văn học, Hà Nội.
[5] Dương Hướng (2004), Bến không chồng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
[6] Nguyễn Xuân Khánh (2002), Hồ Quý Ly, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
[7] Nguyễn Xuân Khánh (2012), Đội gạo lên chùa, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
[8] Lê Lựu (1998), Thời xa vắng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
[9] Bảo Ninh (1990), Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
[10] Nguyễn Bình Phương (2006), Ngồi, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
[11] Đoàn Minh Phượng (2006), Và khi tro bụi, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.